Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển động mạnh mẽ dưới tác động của tự chủ đại học, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, trách nhiệm giải trình và yêu cầu nâng cao chất lượng thực chất, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục không còn là nhiệm vụ mang tính kỹ thuật hay phục vụ riêng cho kiểm định, mà đã trở thành một trụ cột quan trọng của quản trị đại học hiện đại.
Đối với Trường Đại học Tây Nguyên, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là cơ sở giáo dục đại học công lập với bề dày lịch sử gần 50 năm (được thành lập theo Quyết định số 298/CP ngày 11/11/1977), Nhà trường mang trong mình sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hợp tác, chuyển giao tri thức và phục vụ cộng đồng cho khu vực Tây Nguyên và cả nước. Trong bối cảnh vùng Tây Nguyên đang được đặt trong nhiều định hướng phát triển chiến lược, nhất là yêu cầu hình thành các trung tâm đào tạo chất lượng cao tại thành phố Buôn Ma Thuột và thành phố Đà Lạt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của Trường trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa có tính pháp lý, vừa có tính chiến lược.
Năm 2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy và thực tiễn bảo đảm chất lượng của Trường Đại học Tây Nguyên. Kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục năm 2026 của Nhà trường xác định rõ mục tiêu phát triển văn hóa chất lượng và văn hóa minh chứng trong quản trị đại học; nâng cao chất lượng hoạt động quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, kết nối và phục vụ cộng đồng; thiết lập và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong; chuẩn bị cho các hoạt động đánh giá, xếp hạng và kiểm định chất lượng; đồng thời hỗ trợ cải tiến chất lượng tại các đơn vị.
Đây là sự chuyển dịch có ý nghĩa từ cách tiếp cận bảo đảm chất lượng theo từng hoạt động riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ thống, trong đó chất lượng được gắn với chiến lược phát triển Trường, kế hoạch hằng năm, chỉ tiêu thực hiện, minh chứng, dữ liệu, kiểm định, đối sánh và cải tiến liên tục. Các hoạt động bảo đảm chất lượng được yêu cầu vận hành theo chu trình PDCA, gồm lập kế hoạch, triển khai, kiểm tra - giám sát - đánh giá và cải tiến. Điều này cho thấy bảo đảm chất lượng tại Trường Đại học Tây Nguyên không chỉ hướng đến việc đáp ứng tiêu chuẩn bên ngoài, mà còn nhằm hình thành năng lực tự đánh giá, tự cải tiến và tự chịu trách nhiệm trong toàn hệ thống.
Một điểm mới nổi bật trong định hướng năm 2026 là Nhà trường xác định bảo đảm chất lượng gắn chặt với các nhiệm vụ phát triển trọng tâm. Trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ, Nhà trường triển khai giao KPIs đến các đơn vị, thực hiện quy hoạch cán bộ quản lý, xây dựng chiến lược phát triển Trường đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, rà soát cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả và xây dựng Đề án trọng dụng nhân tài chất lượng cao. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm chất lượng không chỉ dừng ở hoạt động chuyên môn, mà được tích hợp vào quản trị nhân sự, quản trị chiến lược và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng đơn vị.
Trong lĩnh vực đào tạo và người học, Kế hoạch năm 2026 đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể như mở mới các ngành đào tạo, thiết lập mạng lưới đối tác để đưa sinh viên đi thực tập thực tế, duy trì quy mô đào tạo khoảng 10.500 sinh viên, xây dựng các chương trình tiên tiến theo Quyết định 671/QĐ-TTg (2025), số hóa dữ liệu văn bằng chứng chỉ, hoàn thiện phần mềm quản lý đào tạo, đồng bộ dữ liệu sinh viên trên HEMIS, nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn, bảo đảm tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 12 tháng đạt từ 88% trở lên và giảm tỷ lệ sinh viên vi phạm quy chế.
Những chỉ tiêu này cho thấy chất lượng đào tạo đang được tiếp cận theo hướng đo lường được, theo dõi được và cải tiến được. Chất lượng không còn được hiểu chung chung, mà được cụ thể hóa thành dữ liệu về tuyển sinh, quy mô đào tạo, tiến độ học tập, tốt nghiệp, việc làm, hồ sơ người học, mức độ tuân thủ quy chế và hiệu quả hỗ trợ sinh viên. Đây là nền tảng quan trọng để Nhà trường từng bước xây dựng quản trị đào tạo dựa trên dữ liệu.
Trong lĩnh vực kiểm định, khảo thí và xếp hạng, năm 2026 là năm có ý nghĩa trọng tâm đối với Trường Đại học Tây Nguyên. Nhà trường triển khai đánh giá ngoài cơ sở giáo dục chu kỳ 2; rà soát, cập nhật và hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong; thực hiện báo cáo giữa chu kỳ đối với 11 chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và 02 chương trình đào tạo theo AUN-QA 4.0; tiếp tục cải tiến sau đánh giá ngoài đối với 06 chương trình đào tạo đã đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn MOET; triển khai kiểm định các chương trình theo AUN-QA 4.0 và theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đồng thời tham gia xếp hạng đại học theo hệ thống UPM ở cấp chương trình đào tạo và chuẩn bị dữ liệu cho đánh giá xếp hạng cơ sở giáo dục.
Đây là minh chứng rõ nét cho thấy bảo đảm chất lượng tại Trường Đại học Tây Nguyên đang từng bước đi vào chiều sâu, kết nối giữa tự đánh giá, đánh giá ngoài, kiểm định chất lượng, cải tiến sau đánh giá và xếp hạng đại học. Các hoạt động này không chỉ nhằm đạt chứng nhận, mà quan trọng hơn là tạo cơ chế phản hồi khách quan, giúp Nhà trường nhận diện điểm mạnh, khoảng cách chất lượng và ưu tiên cải tiến trong từng giai đoạn.
Đặc biệt, Việc ban hành Quy định Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong Trường Đại học Tây Nguyên năm 2026 đã tạo cơ sở pháp lý và quản trị quan trọng để thể chế hóa toàn bộ hoạt động bảo đảm chất lượng của Nhà trường. Quy định này xác định hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong là tổng thể các chính sách, mục tiêu, cơ cấu tổ chức, quy trình, công cụ, nguồn lực, dữ liệu và hoạt động được Trường thiết lập, vận hành nhằm duy trì, kiểm soát, nâng cao và cải tiến liên tục chất lượng (theo tinh thần Luật Giáo dục đại học 125 - 2025).
Theo Quy định này, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của Trường được xây dựng trên bốn cấu phần chủ yếu: tổ chức và chính sách chất lượng; hệ thống và quy trình chất lượng; dữ liệu, phân tích dữ liệu và quản trị thông tin chất lượng; đánh giá và cải tiến chất lượng. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng bảo đảm chất lượng hiện đại, trong đó chất lượng được quản trị như một hệ sinh thái liên thông giữa chính sách, quy trình, dữ liệu, đánh giá, minh chứng và cải tiến.
Một điểm có ý nghĩa chiến lược là Quy định đã xác lập các trụ cột quản trị của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, bao gồm cam kết của lãnh đạo; cân bằng giữa quản trị tập trung ở cấp Trường và triển khai linh hoạt ở cấp đơn vị; liên kết dọc và liên kết ngang trong toàn Trường; tích hợp, đơn giản hóa quy trình; phát triển đội ngũ; cơ chế động viên, ghi nhận, khen thưởng; xây dựng văn hóa chất lượng; tăng cường quản trị bằng dữ liệu, đối sánh, giám sát và theo dõi kết quả thực hiện.
Đây chính là điểm then chốt trong tư duy bảo đảm chất lượng của Trường Đại học Tây Nguyên hiện nay. Chất lượng không chỉ được vận hành từ trên xuống thông qua chỉ đạo, kế hoạch và quy định, mà còn được triển khai từ dưới lên thông qua sự chủ động của các khoa, viện, trung tâm, chương trình đào tạo, giảng viên, viên chức, người học và các bên liên quan. Nói cách khác, Nhà trường đang hướng đến mô hình quản trị thống nhất ở cấp Trường nhưng linh hoạt ở cấp đơn vị, bảo đảm vừa có sự đồng bộ, vừa có khả năng thích ứng với đặc thù của từng lĩnh vực đào tạo và hoạt động chuyên môn.
Cơ cấu tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cũng được quy định theo ba cấp: cấp Trường gồm Hội đồng bảo đảm chất lượng và Phòng Quản lý chất lượng là đơn vị thường trực; cấp đơn vị gồm Tổ bảo đảm chất lượng tại các đơn vị; cấp chương trình đào tạo gồm nhóm bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo hoặc tổ công tác tự đánh giá, cải tiến, phát triển chương trình đào tạo.
Mô hình ba cấp này có ý nghĩa rất quan trọng đối với một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực như Trường Đại học Tây Nguyên. Nó giúp công tác bảo đảm chất lượng không bị tập trung đơn lẻ ở một phòng chức năng, mà được phân bổ trách nhiệm đến từng đơn vị và từng chương trình đào tạo. Qua đó, chất lượng trở thành trách nhiệm chung của toàn Trường, đồng thời bảo đảm mỗi chương trình đào tạo đều có cơ chế tự theo dõi, tự đánh giá và tự cải tiến phù hợp với đặc thù riêng.
Trong hệ thống này, Phòng Quản lý chất lượng có vai trò tham mưu cho Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Hiệu trưởng về chính sách, mục tiêu, kế hoạch và mô hình vận hành hệ thống; chủ trì xây dựng, cập nhật, hướng dẫn thực hiện quy định, quy trình, biểu mẫu, bộ chỉ số, chế độ báo cáo và công cụ phục vụ bảo đảm chất lượng; điều phối tự đánh giá, đánh giá nội bộ, đánh giá ngoài và kiểm định; tổ chức khảo sát các bên liên quan; quản lý cơ sở dữ liệu chất lượng, kho minh chứng và báo cáo chất lượng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng và truyền thông về bảo đảm chất lượng.
Đồng thời, các phòng chức năng, khoa, viện, trung tâm và đơn vị đào tạo có trách nhiệm tích hợp yêu cầu bảo đảm chất lượng vào kế hoạch công tác, quy trình nghiệp vụ và hoạt động quản lý; cung cấp dữ liệu, hồ sơ, minh chứng đúng thời hạn; tổ chức tự đánh giá ở cấp đơn vị và cấp chương trình đào tạo; theo dõi chất lượng người học, kết quả học tập, tốt nghiệp, phản hồi của các bên liên quan và hiệu quả hoạt động của chương trình đào tạo.
Một nội dung rất đáng chú ý là Quy định đã mở rộng phạm vi bảo đảm chất lượng sang toàn bộ các lĩnh vực cốt lõi của Nhà trường, bao gồm đào tạo, hỗ trợ người học, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, phục vụ cộng đồng, hợp tác quốc tế, đội ngũ, cơ sở vật chất, thư viện, học liệu, hạ tầng số, tài chính, quản trị rủi ro, chuẩn hóa quy trình và phòng ngừa sai lệch chất lượng. Đây là bước phát triển quan trọng, thể hiện quan điểm chất lượng là chất lượng tổng thể của một cơ sở giáo dục đại học, không chỉ là chất lượng của chương trình đào tạo hay kết quả kiểm định.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, Quy định nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chất lượng giáo dục thống nhất, bao quát các nhóm dữ liệu về tổ chức bộ máy, nhân sự, đào tạo, người học, khảo thí, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, phục vụ cộng đồng, cơ sở vật chất, tài chính, khảo sát, kiểm định chất lượng và các nhóm dữ liệu cần thiết khác. Trường cũng khuyến khích sử dụng dashboard, công cụ cảnh báo sớm và công cụ phân tích dữ liệu thời gian thực để phục vụ ra quyết định quản trị chất lượng.
Định hướng này phù hợp với nhiều nhiệm vụ cụ thể trong Kế hoạch năm 2026 như cập nhật dữ liệu HEMIS, số hóa hồ sơ sinh viên, số hóa văn bằng chứng chỉ, tạo lập kho học liệu số và bài giảng trực tuyến, triển khai chữ ký số cho toàn bộ viên chức, xây dựng hồ sơ đánh giá hệ thống thông tin cấp độ 2, triển khai thư viện số, xây dựng phần mềm quản trị Nhà trường và chuẩn hóa, số hóa quy trình tài chính.
Có thể thấy, Trường Đại học Tây Nguyên đang từng bước chuyển từ quản lý chất lượng dựa trên hồ sơ thủ công sang quản trị chất lượng dựa trên dữ liệu, minh chứng số và công cụ số. Đây là điều kiện quan trọng để Nhà trường nâng cao hiệu quả ra quyết định, tăng tính minh bạch, giảm chồng chéo, rút ngắn thời gian xử lý, đồng thời tăng năng lực theo dõi, cảnh báo và cải tiến chất lượng.
Bên cạnh đó, Quy định Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cũng nhấn mạnh vai trò của tự đánh giá, đánh giá nội bộ, đánh giá ngoài và cải tiến chất lượng. Tự đánh giá cấp cơ sở giáo dục và cấp chương trình đào tạo được xác định là hoạt động thường xuyên của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Kết quả tự đánh giá, đánh giá nội bộ, đánh giá ngoài, kiểm định chất lượng, khảo sát phản hồi và phân tích dữ liệu là căn cứ để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng. Kế hoạch cải tiến phải xác định rõ nội dung cần cải tiến, mục tiêu, giải pháp, tiến độ, đầu mối chịu trách nhiệm, nguồn lực, chỉ số theo dõi và minh chứng hoàn thành.
Điều này cho thấy Nhà trường đang hướng đến bảo đảm chất lượng thực chất, trong đó mọi hoạt động đánh giá đều phải dẫn đến cải tiến, mọi kết quả cải tiến đều phải có chỉ số theo dõi và minh chứng hoàn thành, và kết quả cải tiến được xem là một trong các căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và cá nhân.
Trong năm 2026, Trường Đại học Tây Nguyên cũng chú trọng kết nối bảo đảm chất lượng với nghiên cứu khoa học, hợp tác, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Kế hoạch năm 2026 đặt ra chỉ tiêu số lượng bài báo khoa học của giảng viên đạt từ 0,6 bài/người/năm, trong đó có từ 0,3 bài WoS/Scopus; phát triển ít nhất 07 nhiệm vụ khoa học công nghệ được duyệt để thực hiện từ năm 2027; xây dựng Đề án thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ; công bố 3 đến 5 công trình để hợp tác, đầu tư; ký kết ít nhất 10 MOU, hợp đồng, dự án với đối tác trong và ngoài nước; hỗ trợ ít nhất 03 dự án khởi nghiệp của sinh viên, giảng viên.
Như vậy, bảo đảm chất lượng tại Trường Đại học Tây Nguyên không chỉ phục vụ đào tạo, mà còn mở rộng sang chất lượng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế, chuyển giao tri thức và phục vụ cộng đồng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với mô hình đại học hiện đại, trong đó chất lượng được nhìn nhận thông qua cả đầu vào, quá trình, đầu ra, kết quả và tác động xã hội.
Từ những định hướng và nhiệm vụ nêu trên, có thể khẳng định rằng Trường Đại học Tây Nguyên đang bước vào giai đoạn phát triển mới của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Giai đoạn này được đặc trưng bởi năm chuyển đổi quan trọng: chuyển từ bảo đảm chất lượng theo sự vụ sang bảo đảm chất lượng theo hệ thống; chuyển từ kiểm định để đáp ứng yêu cầu sang kiểm định để cải tiến; chuyển từ quản lý bằng hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu và minh chứng số; chuyển từ trách nhiệm của đơn vị chuyên trách sang trách nhiệm của toàn Trường; và chuyển từ văn hóa tuân thủ sang văn hóa chất lượng, minh bạch, đổi mới và cải tiến liên tục.
Trong bối cảnh thực tiễn của Trường Đại học Tây Nguyên, việc ban hành và triển khai Quy định Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, cùng với Kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục năm 2026, không chỉ là yêu cầu quản lý nội bộ, mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố uy tín, đáp ứng yêu cầu của Luật Giáo dục đại học năm 2025, các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học và các định hướng phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn mới.
Có thể nói, bảo đảm chất lượng tại Trường Đại học Tây Nguyên đang dần trở thành một hệ sinh thái quản trị phát triển, trong đó mỗi kế hoạch, mỗi chương trình đào tạo, mỗi hoạt động khảo sát, mỗi báo cáo tự đánh giá, mỗi minh chứng, mỗi dữ liệu và mỗi hành động cải tiến đều góp phần xây dựng một Nhà trường chất lượng hơn, minh bạch hơn, có trách nhiệm hơn và phục vụ tốt hơn cho người học, cộng đồng và sự phát triển của vùng Tây Nguyên.
Trong chặng đường hướng tới năm 2030, tầm nhìn 2045, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong sẽ là nền tảng quan trọng để Trường Đại học Tây Nguyên khẳng định vai trò của một cơ sở giáo dục đại học vùng có chất lượng, uy tín, có năng lực hội nhập, có khả năng đổi mới và có đóng góp thiết thực cho phát triển bền vững của khu vực Tây Nguyên và đất nước.
0 Nhận xét